Hướng Dẫn Phòng Trừ Sâu Hại Trên Cây Ăn Quả Có Múi
Cập nhật lúc: 23/11/2019
Phòng Trừ Sâu Bệnh Trên Cây Ăn Quả Có Múi
HƯỚNG DẪN PHÒNG TRỪ SÂU HẠI TRÊN CÂY ĂN QUẢ CÓ MÚI
I. SÂU HẠI
1. Bọ trĩ (Thripidae)
a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Có kích thước rất nhỏ, dài khoảng 1,1mm, trưởng thành cái có kích thước lớn hơn trưởng thành đực cơ thể có màu vàng nhạt đến màu vàng đậm, phần bụng đậm hơn phần đầu và ngực. Mắt kép màu nâu đen, cánh hẹp thon dài, hai bên rìa cánh có nhiều sợi lông nhỏ dài.
Trứng: Hình bầu dục, mới đẻ có màu trắng trong, sau chuyển thành trắng ngà, sắp nở màu trắng đục được đẻ trong mô của cánh hoa, mô lá, trứng đẻ rải rác.
Ấu trùng: Râu có 7 đốt, không cánh.
Nhộng: Có màu vàng sậm, mắt kép và mắt nhỏ có màu đỏ, mầm cánh xuất hiện, râu đầu ngắn.
Bọ Trĩ gây hại cây cam.
b - Tập tính sinh sống và gây hại
Sống trên các bộ phận như cánh hoa, đài hoa, nụ hoa, cuống hoa, lá non, quả non. Bọ sống và gây hại chủ yếu trên hoa quả non. Trưởng thành ít bay, hoạt động mạnh vào buổi sáng và chiều mát.
Cả trưởng thành và ấu trùng bọ trĩ màu vàng đều cắm vòi hút dinh dưỡng từ hoa, quả non. Nếu bị nặng hoa sẽ bị táp, nhanh tàn, cánh hoa rụng sớm, giảm tỷ lệ đậu quả.
Trên lá non, bọ trĩ làm lá bị biến màu, cong queo.
Trên trái, bọ trĩ tạo ra những mảng xám hoặc những phần lồi màu bạc trên vỏ trái.
c - Biện pháp phòng, trừ * Biện pháp thủ công:
Tỉa cành tạo tán thông thoáng tránh ẩm độ cao.
Thu nhặt những trái bị hại đem tiêu hủy.
Phun nước lên cây.
Biện pháp sinh học: Bảo vệ và lợi dụng thiên địch tự nhiên
Biện pháp hóa học: Phun diệt bọ trĩ bằng dầu khoáng hoặc các loại thuốc như: Abamectin, Sagolex, Bassan, Trebon, Confidor, Cypermethrin khi cây bắt đầu ra nụ nếu bọ trĩ có mật độ cao và sau khi hoa rụng 15 ngày.
2. Bọ xít xanh (Rhynchocoris humeralis) a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Có hình ngũ giác màu xanh lá cây, bóng và dài khoảng 21-23mm, có hai gai nhọn ở phía trước hai bên ngực, hai bên mép bụng có rìa hình răng cưa, vòi chích hút dài đến cuối bụng.
Trứng: Hình tròn, đường kính 1mm, lúc mới đẻ có màu trắng trong, xanh lam, sau đó chuyển sang màu trắng đục, sắp nở có màu nâu sẫm hơn mặt trứng có nhiều chấm lõm.
Bọ xít xanh thường hoạt động vào lúc sáng sớm hay chiều mát, khi trời nắng gắt chúng ẩn dưới tán lá.
Ấu trùng (bọ xít non) khi mới nở dài khoảng 2-3 mm, thường sống tập trung xung quanh ổ trứng, sau đó phân tán dần để chích hút dịch trái. Cơ thể của ấu trùng có hình bầu dục, màu nâu vàng hoặc xanh lục, trên lưng có nhiều đốm màu đỏ, đen, xung quanh mặt lưng có một hàng chấm đen xếp theo hình bầu dục.
Cả con trưởng thành và con ấu trùng, đều dùng vòi để chích hút dịch trái từ khi trái còn rất nhỏ. Chỗ vết chích có một chấm nhỏ và một quầng màu nâu. Nếu trái còn nhỏ đã bị bọ chích hút nhiều thì trái sẽ vàng, chai và rụng sớm. Nếu trái đã lớn mới bị bọ gây hại thì trái dễ bị thối rồi rụng. Một con có thể chích hút gây hại nhiều trái.
Bọ Xít xanh chích hút dịch trái trên cây có múi.
c - Biện pháp phòng, trừ
Biện pháp canh tác: Không nên trồng cam quýt quá dầy mà trồng đúng mật độ khuyến cáo của từng giống, thường xuyên cắt tỉa cành tạo tán, cắt bỏ cành bị sâu bệnh, cành vượt ... để vườn cây luôn thông thoáng, hạn chế nơi trú ngụ của bọ xít.
Biện pháp sinh học: Thu thập và nhử nuôi kiến vàng trong vườn cam quýt để kiến tiêu diệt bọ xít, nhất là bọ xít non.
Biện pháp thủ công: Dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát.
Thường xuyên kiểm tra quả và những lá gần quả để phát hiện và thu gom ổ trứng của chúng đem tiêu hủy.
Biện pháp hóa học: Nếu vườn cam quýt rộng, bọ xít nhiều không thể bắt bằng vợt tay, có thể sử dụng một trong những loại thuốc như: Bascide 50EC, Hoppercin 50EC, Cyper 25EC, Dầu khoáng SK, Enspray 99EC, Vibasa 50EC, Sherpa 0,2%… để phun xịt.
3. Câu cấu (Hypomeces squamosus và Platymycterus sieversi) a - Đặc điểm nhận dạng
Có 2 loại: (loại to và loại nhỏ)
Câu cấu to thường xuất hiện số lượng ít.
Câu cấu nhỏ là loại nhân ra rất nhanh có thể thành dịch.
Trưởng thành: Là bọ cánh cứng, thân hình bầu dục, dài khoảng 7-10mm trên toàn thân có phủ lớp ánh kim nhũ, trưởng thành cái màu xanh, trưởng thành đực có màu vàng, đầu kéo dài như một cái vòi.
Trứng: Đẻ rải rác từng quả trên mặt đất, hình bầu dục, dài khoảng 1mm, màu trắng ngà.
Sâu non: Màu trắng sữa, mình hơi cong, không có chân, sống trong đất ăn chất hữu cơ và rễ cây.
Nhộng: Màu trắng ngà, dài khoảng 10mm, nằm trong đất.
Câu cấu là loài sâu hại đa thực, ngoài gây hại trên cây ăn quả có múi.
b - Tập tính sinh sống và gây hại
Câu cấu là đối tượng rất nguy hiểm bởi với số lượng lớn, phàm ăn, chúng ăn cụt các đọt non, lá non, lá bánh tẻ (thậm chí cả lá già với loài Platymycterus sieversi) và quả non. Quả bị hại nặng có thể rụng, quả bị nhẹ làm vỏ quả biến dạng, giảm phẩm cấp thương phẩm quả. Câu cấu trưởng thành xuất hiện sau các đợt mưa khi cây cam quýt đang ra lộc hè và lộc thu. Câu cấu phá hại lộc làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây, lộc thu nó còn làm giảm năng suất vườn cây năm sau.
Câu cấu là loài sâu hại đa thực, ngoài gây hại trên cây ăn quả có múi, chúng còn gây hại các cây ăn quả khác như xoài, nhãn, vải...
c - Biện pháp phòng, trừ
Phòng: Thường xuyên kiểm tra vườn cây, nhất là các vườn ươm, vườn kiến thiết cơ bản để phát hiện sớm và chủ động phòng trừ.
Biện pháp thủ công: Dùng vợt hoặc bắt bằng tay câu cấu trưởng thành để tiêu diệt.
Biện pháp hóa học: Khi câu cấu xuất hiện nhiều cần phun thuốc Supracid 40EC nồng độ 0,25% hoặc Padan pha nồng độ 0,2% phun vào sáng sớm hoặc chiều mát.
4. Ngài chích hút (Fruitpiercing moths, Rhytia hypernestra) a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Ngài có kích thước tương đối lớn, có thân dài 35-38mm, dang cánh rộng khoảng 85 - 90mm. Cánh trước màu nâu nhạt. Có một đường cong từ đỉnh cánh xiên qua buồng giữa cánh xuống đến gốc mép sau tạo thành một mảng hình tam giác nâu tím. Mép trước cánh màu nâu, phía trong màu nâu nhạt, cánh sau màu vàng nhạt.
b - Tập tính sinh sống và gây hại
Ngài chích hút quả hoạt động ban đêm. Thường từ 6 - 7 giờ tối bay từ rừng hoặc cây bụi đến vườn cây ăn quả có múi. Gây hại chủ yếu từ 7 - 10 giờ đêm. Khoảng 4 - 5 giờ sáng bay khỏi vườn.
Gây hại trực tiếp: Ngài chích hút tạo vết thương trên quả làm cho vùng mô tương ứng nơi bị chích hút hoàn toàn bị khô đi. Quá trình chích hút xẩy ra như sau: khi tìm ra trái có thể chích hút được, ngài dò tìm vị trí thích hợp để chọc vòi vào bên trong trái tới tận phần thịt của trái, sau đó ngài chích hút dịch của trái. Nếu vị trí này không thích hợp, ngài sẽ rút vòi ra và tìm vị trí khác thích hợp hơn. Vết chích là một lỗ tròn, đường kính từ 1/2 - 3/4 mm. Khi mới bị chích, rất khó phát hiện vết đục, nếu dùng tay bóp nhẹ sẽ có dịch trái chẩy qua lỗ đó. Vài ngày sau vỏ trái chung quanh vết chích trở nên mềm. Ngài thích tấn công trái chín hoặc sắp chín. Chích hút dịch quả tạo vết thương cho nấm xâm nhập làm thối rụng quả. Thời gian gây hại tháng 7 – 10.
Gây hại gián tiếp: Qua vết chích, trái bị hại sau đó thường bị bội nhiễm bởi nhiều loại vi sinh vật khác như các loại nấm (Fusarium spp., Colletotrichum spp., Oospora citri, Oospora spp...) và vi khuẩn cũng như các loại ruồi (Drosophila). Khi xâm nhập vào trong trái, các đối tượng này làm trái bị thối rất nhanh. Vết chích khi đó sẽ có mầu nâu và vùng xung quanh vết chích có mầu nhạt, mềm. Trái sẽ bị rụng trong khoảng một tuần sau đó. Trái rụng sẽ có mùi hôi thối, ngài không thích ăn nhưng mùi này lại có tác dụng thu hút ngài từ xa bay đến.
Ngài chích hút tạo vết thương trên quả làm cho vùng mô tương ứng nơi bị chích hút hoàn toàn bị khô đi.
c - Biện pháp phòng, trừ
Phòng chống: Điều tra phát hiện thời gian xuất hiện của ngài hút quả.
Diệt trừ các cây là thức ăn của ấu trùng của các loại ngài quan trọng trong các vườn tạp là biện pháp cần thực hiện, có ý nghĩa quan trọng trong việc làm hạn chế mật độ phát sinh tại chỗ của các loại này. Dùng vợt bắt và giết trưởng thành vào ban đêm, trong khoảng từ 18-22 giờ.
Sử dụng bẫy bả thức ăn (chuối xiêm, chuối già chín và mít chín) có tẩm các loại thuốc trừ sâu không hoặc ít mùi để không ảnh hưởng đến mùi thơm của bẫy mồi để dẫn dụ ngài và diệt trưởng thành. Nên chú ý đặt bẫy treo ở những cây xung quanh vườn, đặc biệt phía gần rừng hoặc nhiều cây bụi.
Dùng đạm thủy phân làm bả dẫn dụ: 1 lít pha loãng 3 - 4 lần thêm thuốc trừ sâu hóa học và tẩm vào giẻ hay đựng trong bát, túi nilon, treo lên tán cây. Ngài hút giẻ bị nhiễm thuốc.
Bao quả khi thấy ngài hút quả bắt đầu xuất hiện.
5. Nhện đỏ (Panonychus citri) a - Đặc điểm nhận dạng
Trường thành: Con cái có thân dài khoảng 0,4mm, màu đỏ đậm, chân nâu vàng nhạt, trên cơ thể có lông cứng. Con đực trưởng thành có cơ thể nhỏ hơn nhưng chân dài hơn con cái, thân dài 0,2 - 0,3mm.
Trứng: Hình cầu dẹt, giống củ hành, có cuống dài, được đẻ ở gần chính của mặt trên lá.
Nhện non: Nhện non mới nở có màu trắng vàng, tuổi 2 màu nâu đỏ, tuổi 3 màu đỏ sẫm.
Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ Đông Xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vòng tròn lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo. Những cây cam quýt gần với nương chè thường hay có nhện đỏ phá hoại.
Nếu có nhiều nhện đỏ lá cây xuất hiện nhiều đốm bạc, cành lá non bị vàng. Khi cây thời kỳ quả non tháng 1, 2 nếu có nhện đỏ ăn vào phần vỏ quả sau này quả bị rám (màu xám đen).
Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo.
c - Biện pháp phòng, trừ
Trong tự nhiên, nhện đỏ có rất nhiều thiên địch tấn công, do vậy cần sử dụng thuốc BVTV hợp lý để bảo vệ thiên địch.
Phòng: bón phân cấn đối, tưới nước đầy đủ hợp lý trong mùa nắng để làm tăng ẩm độ vườn, chăm sóc cho cây khỏe, tăng sức chống chịu.
Biện pháp canh tác: cắt tỉa cành tạo tán cho vườn thông thoáng.
Biện pháp sinh học: bảo vệ và lợi dụng các loại thiên địch tự nhiên.
Trừ nhện đỏ: Trừ nhện khi cần thiết thì dùng thuốc: Comite
73EC, Furmite: 12ml + 30ml, Dầu khoáng SK hoặc Ortus 5SC, Pegasus 500 SC, Nissorun 5EC, sokupi 0.36AS + dầu khoáng pha nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc thuốc có chứa hoạt chất Abamectin kết hợp với dầu khoáng trừ sâu… phun ướt cả mặt lá dưới. Nếu đã bị nhện phá hại nặng phải phun liên tục 2-3 lần với các loại thuốc khác nhau tránh hiện tượng nhờn thuốc đối với nhện đỏ, mỗi lần cách nhau 5-7 ngày.
6. Nhện rám vàng (Phyllocoptura oleivora) a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Màu vàng, có kích thước cơ thể rất nhỏ, không nhìn thấy bằng mắt thường. Cơ thể hình củ cà rốt hơi dẹt, dài 0,150,17mm.
Trứng: Có hình cầu, màu trắng hơi vàng, được đẻ rải rác trên quả hoặc gân chính của lá.
Nhện rám vàng tập trung chích hút dịch trên vỏ quả, làm vỏ quả biến màu, chuyển sang màu xỉn.
Ðây là loài nhện gây hại quan trọng nhất hiện nay trên cam quýt. Nhện có thể gây hại trên quả, lá và cành nhưng gây hại nhiều nhất trên quả. Nhện gây hại từ khi quả vừa mới đậu cho đến khi thu hoạch, tuy nhiên Nhện tập trung mật độ rất cao trên quả non. Gây hại bằng cách cạp và hút dịch của vỏ quả (trái), tập trung nhiều trên phần vỏ trái hướng ra phía ngoài tán lá. Sự phá hại của Nhện trên vỏ trái làm trái bị rám và có hiện tượng da nám (da lu) (mầu nâu, nâu đen, hoặc mầu đồng đen ) và da cám (vỏ hơi bị sần sùi hoặc không trơn láng, mầu nâu xám, xám trắng hoặc xám bạc). Khi mật độ Nhện cao, vỏ trái và lá như bị phủ một lớp lông sần sùi. Trái bị gây hại thường có vỏ dầy hơn bình thường và có kích thước nhỏ hơn các trái không bị hại. Khi trồng mật độ cao, Nhện vàng cũng gây hại trên lá và cành non. Do chu kỳ sinh trưởng rất ngắn nên Nhện Vàng có khả năng bùng phát rất nhanh. Phát sinh chủ yếu trong thời kỳ khô hạn kéo dài vài tháng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác).
c - Biện pháp phòng, trừ: như nhện đỏ
7. Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus Banks a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Có kích thước rất nhỏ, khó nhìn thấy bằng mắt thường. Trưởng thành cái có thân dài khoảng 0,2mm, hình ô van, màu trắng trong. Trưởng thành đực có cơ thể nhỏ hơn, thân dài khoảng 0,15mm, hình ô van, nhọn 2 đầu, màu trắng vàng.
Trứng: Có hình quả dứa bổ đôi, màu trong, trên mặt có các u lồi màu trắng như bụi phấn, xếp thành 5-6 dãy.
Nhện non: Màu trắng sữa, nhện non chỉ có 1 tuổi sau một lần lột xác thì hóa trưởng thành.
Nhện trưởng thành cái đẻ trứng ở mặt dưới lá non, cành non, quả non, cuống hoa hay hoa với số lượng khoảng 25 trứng.
+ Thời gian ủ trứng: 2-3 ngày.
+ Ấu trùng: 2-3 ngày.
+ Trưởng thành cái và đực: 11-12 và 15-16 ngày.
b - Tập tính sinh sống và gây hại
Nhện trắng là loài đa thực, gây hại nhiều loại thực vật, trong đó có các lọai cây ăn quả có múi. Nhện trắng sống ở mặt dưới lá non, trong kẽ lá, búp ngọn non, nụ hoa, quả non.
Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu xám trắng ở trên vỏ quả. Nhện trắng làm lá non và búp non chùn lại.
Nhện trắng thường tấn công phần vỏ trái non nằm trong tán lá, khi trái bị hại, bề mặt vỏ trái bị mất màu, giống như triệu chứng da cám.
c - Biện pháp phòng, trừ
Phòng: Bón phân cấn đối, tưới nước đầy đủ hợp lý trong mùa nắng để làm tăng ẩm độ vườn, chăm sóc cho cây khỏe, tăng sức chống chịu.
Cắt tỉa cành tạo tán cho vườn thông thoáng.
Biện pháp sinh học: Bảo vệ và lợi dụng các loại thiên địch tự nhiên như: kiến vàng, bọ rùa, bọ cánh cứng....
Trong điều kiện tự nhiên, nhóm Nhện gây hại cũng bị rất nhiều loài thiên địch tấn công nên mật độ của chúng thường không cao, tuy nhiên việc sử dụng thường xuyên các thuốc hóa học có phổ rộng đã tiêu diệt nhiều loài thiên địch của Nhện gây hại, điều này sẽ đưa đến sự gia tăng mật độ và sự bộc phát của Nhện. Nhiều loại thuốc hóa học khi sử dụng liên tục sẽ gây hiện tượng nhờn thuốc trên Nhện. Bên cạnh đó, một số loại thuốc còn có khả năng làm gia tăng mật độ Nhện gây hại qua việc kích thích sự sinh sản của Nhện hoặc cũng có thể thuốc đã làm thay đổi các đặc tính sinh lý của cây ký chủ. Ngoài biện pháp hoá học, nhiều biện pháp sinh học cũng được áp dụng như sử dụng các Nhện thiên địch thuộc họ Phytoseiidae.
Khi mật độ Nhện đạt 3 con /lá hoặc quả thì sử dụng các loại thuốc đặc trị. Để ngăn chặn sự bộc phát tính kháng thuốc, khi sử dụng thuốc hóa học cần luân phiên các loại thuốc có gốc hóa học khác nhau.
Biện pháp hóa học: Dùng Polytrin 25ml/10lít nước hoặc Ortus, Pegasus, Comite hoặc dầu khoáng trừ sâu… pha nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất phun ướt cả mặt lá dưới và phun lúc cây ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun liên tục 2 - 3 lần với các loại thuốc khác nhau, mỗi lần cách nhau 5-7 ngày.
Ở những vùng thường xuyên bị rám quả, tiến hành phòng trừ nhện hai đợt bằng Ortus 5 SC 0,1% hoặc Comite 73 EC 0,1%. Dầu phun trừ sâu Caltex 0,5%.
Đợt 1: Khi quả lớn bằng đầu ngón tay hay có đường kính khoảng 1cm Đợt 2: Phun sau đợt 1 khoảng từ 7- 10 ngày.
8. Rầy chổng cánh (Diaphorina citri) a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Có thân dài 2,5-3,0mm kể cả cánh, màu xám tro, đỉnh đầu nhọn nhô về phía trước, mắt có màu đỏ. Chân có màu xám nâu. Cánh cùng màu với cơ thể, nhưng có các đốm đen.
Ấu trùng: Mới nở có hình tròn dài màu vàng tối, mắt kép đỏ. Ấu trùng tuổi lớn dẹt mỏng, màu vàng đất hơi xanh, có các đốm màu đen.
Trưởng thành khi đậu thường chúc đầu và cánh chổng cao hơn phần đầu, thường đậu ở các đọt non để chích hút nhựa cây, ít bay và thường bay gần, ấu trùng di chuyển chậm chạp, sống tập trung ở đọt và lá non .
Ấu trùng và thành trùng chích hút dinh dưỡng của lá và đọt
non làm cho đọt non lụi dần, sần sùi, lá non bị hại phiến lá nhỏ và xoăn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và sự ra quả. Thời gian xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 11 mật độ quần thể cao thường trùng vào các đợt lộc của cây ăn quả có múi.
c- Biện pháp phòng, trừ
Phòng: Không nên trồng các cây cảnh thuộc họ cam quýt gần các vườn cam quýt.
Biện pháp canh tác:
Cắt tỉa cành taọ bộ khung thông thoáng, ẩm độ thấp.
Bón phân cân đối, tưới nước hợp lý, điều khiển cho cây ra các đợt
lộc tập trung để hạn chế sự phát triển và gây hại của rầy chổng cánh.
Nhổ bỏ những cây bị bệnh vàng lá Greening trong vườn đem tiêu hủy để giảm nguồn bệnh lây lan sang những cây khỏe.
Biện pháp sinh học: Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch ( Kiến vàng, bọ rùa, bọ cánh cứng, nhện bắt mồi...) trong vườn phát triển.
Biện pháp hóa học: Phun thuốc lúc cây ra đọt non tập trung khi rầy xuất hiện, có thể dùng các loại thuốc: Oshin 20WP, Elshin 10EC Trebon 10EC, Sherpa 0,2%, Anvado 100WP, dầu DC- Tron Plus, Isoprocarb (Mipcide), Buprofezin (Applaud), Isoprocarb (Bassa ...) hoặc dầu khoáng .
9. Ruồi đục quả( ruồi vàng) (Bactrocera dorsalis) a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Có cơ thể dài 7mm, dang cánh 13mm. Trưởng thành cái lớn hơn trưởng thành đực. Đầu hình bán cầu, phía trước đầu nâu đỏ, có vệt đen nhỏ. Mặt có 2 đốm đen tròn to ở dưới chân râu đầu. Phía sau đầu có nhiều lông nhỏ. Phần ngực nâu đỏ, nâu tối, mảnh lưng nâu đen có vân vàng bên sườn ngực. Mảnh lưng có vân vàng chữ U.
Chân có đùi nâu đỏ, chày và bàn màu vàng.
Trứng: Hình quả dưa chuột, dài 1mm, mới đẻ màu trắng sữa sau chuyển thành màu vàng nhạt.
Nhộng: Nhộng nằm trong vỏ kén giả, có hình trứng dài.
Nhộng mới lột xác có màu vàng nâu, sắp vũ hóa có màu nâu đỏ.
Trưởng thành cái dùng ống đẻ trứng châm qua vỏ quả, đẻ vào nơi tiếp giáp vỏ quả và thịt quả. Dòi ăn thịt quả, tuổi càng lớn đục vào phía trong. Đẫy sức chúng rời khỏi quả, rơi xuống đất và chui vào đất ở dưới tán cây để hóa nhộng. Ruồi đục quả thường thích vườn cam um tùm, rậm rạp, nhất là vườn cam gần ven rừng.
Vào tháng 5 trưởng thành bắt đầu xuất hiện trong các vườn cam. Từ tháng 7 trở đi ruồi hoạt động mạnh trong các vườn cam, chúng tìm quả cam chín sớm để đẻ trứng có thể đây là lứa đầu tiên trên cam. Đến tháng 8,9 khi cam bắt đầu chín, mật độ ruồi gia tăng rõ rệt, đỉnh cao mật độ ruồi vào cuối tháng 10 đầu tháng 11 thu hoạch cam xong, ruồi chuyển sang cây trồng khác.
c - Biện pháp phòng, trừ
Phòng chống: Đốn tỉa cành tạo cho vườn thông thoáng.
Dùng túi giấy bao quả từ sau thời kỳ rụng quả sinh lý trở đi, khi quả chín thì thu hoạch kịp thời, không để lâu trên cây.
Thu nhặt quả bị hại đem tiêu hủy để diệt dòi ở trong quả.
Biện pháp sinh học: Sử dụng bả protein để diệt ruồi đực, tẩm 2ml hợp chất dẫn dụ (ME hoặc CuE + 20% thuốc trừ sâu) vào bẫy. Treo bẫy lên cây nơi râm mát ở độ cao 1,5-2m. Mỗi ha treo 20- 30 bẫy, cứ sáu tuần thay bả một lần. Còn nếu dùng bả để phun phòng thì chỉ cần pha 50ml bả protein + 10ml Pyrinex 20EC + 0,95 lít nước để trừ. Khi phun cần phun theo điểm đối với cây ăn quả, mỗi điểm phun 50ml hỗn hợp tương ứng 1m2/cây) vào dưới tán lá, phun định kỳ 5- 7 ngày/lần.
Biện pháp hóa học: Thuốc diệt ruồi vàng đục trái Vizibon D: Hộp nhỏ chứa 2 chai thuốc gồm 1 chai lớn chất dẫn dụ ruồi và 1 chai nhỏ chất diệt ruồi. khi sử dụng mở nắp 2 chai thuốc. Đổ hết thuốc diệt ruồi vào chai chất dẫn dụ, đậy nắp kín, lắc đều. Sau đó tẩm khoảng 1ml hỗn hợp thuốc đã trộn vào bẫy, treo lên cây. Treo từ 2-3 bẫy cho 1000m2. Sau 20 ngày treo, đổ hết xác ruồi chết, tẩm thuốc mới vào bẫy, tiếp tục treo lên cây.
Thuốc đã hỗn hợp nếu không dùng hết, đậy nắp kín, để nơi
thoáng mát và có thể sử dụng trong vòng 6 tháng.
Dùng thuốc rắc xung quanh gốc cây để trừ nhộng của ruồi.
10. Rệp muội xanh (Aphis spiraecola Patch) và rệp muội nâu đen (Toxoptera aurantii B)
Rệp muội xanh Aphis spiraecola (A. citricola) và rệp muội nâu đen Toxoptera aurantii là 2 loài gây hại phổ biến với mật độ cao trên cây cam quýt, chúng thường gây nên hiện tượng lá vàng úa, phủ kín muội đen, dẫn đến giảm khả năng quang hợp, năng suất cũng như chất lượng quả. Rệp muội gây hại chủ yếu trên lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen phát triển.
a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Kích thước cơ thể khá nhỏ, có 2 dạng hình. Thân của dạng không cánh và có cánh đều dài 2,2-2,1mm. Màu sắc cơ thể thay đổi. Chân, râu đầu có màu nâu nhạt. Dạng có cánh thì đầu và ngực màu nâu tối, bụng màu xanh vàng.
Rệp non: Có màu sắc sáng màu hơn trưởng thành, tuy nhiên râu đầu, chân và ống mật có màu tối hơn.
Cả trưởng thành và rệp non chích hút dịch cây trên lộc non, đôi khi cả trên nụ hoa của cây ăn quả có múi c - Biện pháp phòng, trừ
Biện pháp canh tác: Bón phân cân đối, tưới nước hợp lý, chăm sóc cho cây ra lộc tập trung.
Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt lộc ra tập trung để hạn chế sự phát triển và gây hại của rệp muội. Thu ngắt các lộc non bị hại nặng.
Biện pháp sinh học: Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch như: bọ rùa, kiến vàng, bọ cánh cứng ... trong vườn phát triển.
Biện pháp hóa học: Dùng thuốc Confidor 100SL, Actara 25WG, Ecasi 20EC Anvado 100WP (thuốc cung tên) 100g/16l nước, Suprasite 20ml/10l nước, Sherpa hoặc Trebon với nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất phun trong 1-2 lần ở thời kỳ lá non.
11. Rệp sáp (Planococcus citri) a - Đặc điểm nhận dạng
Rệp sáp có kích thước rất nhỏ, trên mình phủ một lớp bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vẩy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu.
Ấu trùng và trưởng thành Cái gây hại bằng cách chích hút
lá, cành, quả, cuống quả. Nếu bị nhiễm nặng, lá bị vàng, rụng, cành bị khô và chết, vỏ quả cũng có thể bị biến mầu, phát triển kém và bị rụng. Rệp sáp gây hại chủ yếu vào mùa nắng. Mật ngọt do rầy tiết ra còn hấp dẫn nấm bồ hóng phát triển làm ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây. Những vườn cây hoặc cây có múi ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang.
c - Biện pháp phòng, trừ
Biện pháp canh tác: Cắt tỉa cành tạo tán thông thoáng để tránh độ ẩm cao.
Biện pháp sinh học: Bảo vệ và lợi dụng thiên địch tự nhiên như: Bọ rùa, nhện, kiến vàng, bọ cánh cứng.
Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc hóa học gốc Lân hữu cơ có hiệu quả đối với Rệp Sáp nhưng không sử dụng liên tục một loại nhất định, nên sử dụng thuốc phối hợp thuốc hóa học với Dầu khoáng (0,5%), tuy nhiên để tránh ảnh hưởng của Dầu khoáng đối với cây trồng, nồng độ thuốc theo khuyến cáo trên bao bì thuốc khi sử dụng. Dùng Sherpa, Suprathion, Trebon, Confidor 100SL, Actara 25WG, Ecasi 20EC phun nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất phun trong 1-2 lần ở thời kỳ lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc một ít xà phòng để phá lớp sáp phủ trên người rệp là để cho thuốc dễ thấm.
12. Rệp vẩy (Aonidiella aurantii) a - Đặc điểm nhận dạng
Rệp vẩy hình tròn như vẩy ốc, nhỏ đường kính 1 – 2/10cm, xung quanh màu xám, ở giữa có màu hồng đỏ, phía dưới có lớp bám dính vào lá cây để hút dinh dưỡng.
Rệp non mới nở có thể di chuyển được. Sau khi tìm được nơi dinh dưỡng thích hợp thì cố định, lột xác chuyển tuổi và tiết sáp tạo thành vảy. Rệp non mới nở có thể bị gió chuyển sang các cành hoặc cây bên cạnh.
c - Biện pháp phòng, trừ
Biện pháp canh tác: Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt lộc ra tập trung để hạn chế sự phát triển và gây hại của rệp muội.
Biện pháp sinh học: Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch như: Bọ rùa, kiến vàng... trong vườn phát triển.
Biện pháp hóa học: Dùng thuốc Dầu khoáng DC-Tronc
Plus có thể sử dụng ở liều lượng 0,5%. Dùng Sherpa, Suprathion, Trebon, Confidor 100SL, Actara 25WG, phun kép 2 lần cách nhau 5 – 7 ngày.
13. Sâu bướm phượng (Papilio polytes, Papilio demoleus) a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Bướm có kích thước khá lớn, thân dài 2,83,2mm và dang cánh là 9-10cm. Nền cánh màu xanh hoặc màu đen, trên đó có nhiều đốm màu vàng tươi với kích thước khác nhau. Trên cánh sau có một đốm hình bầu dục gần tròn hoặc hình bán nguyệt màu đỏ nâu.
Trứng: Hình cầu, có đường kính khoảng 1mm, mới đẻ trứng có màu trắng sau chuyển thành màu vàng sáp, vàng da cam, trước nở màu xám.
Sâu non: Mới nở màu nâu sẫm, trên cơ có gai thịt, trông xù xì, sau đó xuất hiện các vết màu trắng. Sau 3 lần lột xác chuyển sang màu xanh vàng hoặc màu nâu xám nâu có ngực lớn.
Sâu trưởng thành là bướm phượng có màu sắc sặc sỡ, bướm hoạt động ban ngày, đẻ trứng rời rạc từng quả vào các đọt non. Ấu trùng nở ra, ăn rải rác trên các lá non ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây trồng. Hàng năm sâu non xuất hiện và gây hại trên vườn cam, quýt từ tháng 4 đến tháng 9.
c - Biện pháp phòng, trừ
Phòng: Bảo vệ và lợi dụng tập hợp thiên địch tự nhiên như: Nhện, kiến vàng, bọ rùa, bọ cánh cứng.... Thường xuyên kiểm tra vườn quả, nếu mật độ thấp có thể thu diệt sâu non và nhộng bằng tay.
* Biện pháp hóa học: Nếu mật độ sâu cao phòng trừ sâu non bằng các thuốc trừ sâu thông thường như: thuốc Bt, A bamectin, Azadirastin, Regent, Tre bon, Dipterrex 30g + 1 chén rượu/10lít nước.
14. Sâu đục gốc (Anoplophora chinensis) a - Đặc điểm nhận dạng
Sâu đục gốc còn gọi là xén tóc sao hay xén tóc hoa vì trên thân có điểm khoảng 30 chấm trắng.
Con trưởng thành thường ăn các phần non của cây, đặc biệt là rễ non trước khi đẻ trứng vào tháng 5-6. Trước khi đẻ, xén tóc sao cắn gốc cây một vết hình chữ T ngược rồi đẻ trứng vào đó. Sau 6-12 ngày thì trứng nở, sâu non di chuyển xuống phía dưới gốc, phá hại phần gốc, rễ cây tiếp giáp với thân. Đầu tiên sâu hại vỏ, sau đó đục vào phần gỗ. Nhiều khi sâu đục cả những rễ to, làm cây héo toàn bộ, rụng lá và chết. Sâu non phá hại trong 2-3 tháng thì nghỉ đông ở gốc cây. Đến tháng 3-4 năm sau thì hoá nhộng, tháng 5-6 vũ hoá. Vòng đời của xén tóc sao là 1 năm.
c - Biện pháp phòng, trừ
Biện pháp thủ công: Thăm vườn thường xuyên, bắt xén tóc trưởng thành.
Biện pháp hóa học: Dùng thuốc Supracide hoặc Ofatox nồng độ 1-1,5/1000 bơm vào lỗ đục của cây sau đó dùng đất sét bịt miệng lỗ lại. Kết hợp phun các loại thuốc như: Alocbal 40EC, Marshal 200SC, Vitashield 40EC, Vitashield gold 600EC, Dragon 585EC, Vibasu 10H lên trên cây để diệt trứng.
15. Sâu đục thân (Nadezhdiella cantori) a - Đặc điểm nhận dạng
Sâu đục thân là sâu non của con xén tóc nâu.
i
Xén tóc nâu thích nơi râm mát, ban ngày ẩn nấp, ban đêm thường tìm đến đẻ trứng vào những kẽ nứt, chỗ gồ ghề ở thân cây, cách mặt đất 0,3 - 1m. Trong các tháng 5-6-7, sau khi đẻ 6-12 ngày, trứng sẽ nở. Sâu non nở ra chui vào vỏ, phá hoại phần gỗ, tạo thành những đường ngoằn ngoèo dọc theo thân cây. Sâu non nghỉ đông 2 lần vào khoảng tháng 12 và tháng 1. Sâu hoá nhộng vào khoảng tháng 2, vũ hoá thành xén tóc nâu vào tháng 3-4. Vòng đời của sâu đục thân kéo dài 2,5 - 3 năm.
c - Biện pháp phòng, trừ
* Biện pháp thủ công: Dùng vợt hoặc bắt bằng tay đối với xén tóc trong thời gian con trưởng thành vũ hoá và đẻ trứng từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm.
Về mùa mưa thường xuyên đi kiểm tra vườn 2 – 3 ngày 1 lần, nếu thấy sâu non xuất hiện đục vào thân cây thì phải tiến hành tiêu diệt để tránh sâu ăn sâu vào trong thân cây.
Nếu sâu đã ăn xuống khoảng 8 – 10 cm đùn phân ra thì dùng gai mây hoặc dây thép để lấy xác sâu ra hoặc xịt thuốc nồng độ cao vào lỗ có sâu.
Chú ý: Sâu đục thân thường đẻ trứng ở các kẽ nứt của vỏ ở phần thân cây và gốc cây, vì vậy vào tháng 11-12 người ta thường dùng hỗn hợp: 10kg bùn ao + 01 kg Basudin + 05 kg phân trâu+ 20 lít nước sạch, khuấy đều thành dung dịch đặc sệt rồi quét từ gốc cây lên đến cành cấp 1 vào tháng 4 và tháng 8 hàng năm sẽ có tác dụng: một là lấp các kẽ nứt ở vỏ cây làm cho sâu không có chỗ đẻ trứng, hai là nếu sâu đẻ trứng thì hỗn hợp thuốc sẽ làm cho trứng bị ung không nở thành sâu non để phá hại được.
16. Sâu đục cành (Chelidonium argentatum) a - Đặc điểm nhận dạng
Sâu đục cành là sâu non của con xén tóc xanh. Xén tóc với chiều dài thân 28-35mm, mặt lưng cơ thể màu xanh lục đậm phớt màu tím. Mặt phía bụng phủ lớp lông mịn ánh bạc, hơi xanh. Giữa trán và đỉnh đầu có 1 ngấn rõ. Đốt gốc râu phình to, trên đó có nhiều chấm nhỏ, chân khá lớn, đặc biệt chân sau. Mặt bụng đếm được 6 đốt ở trưởng thành cái và 5 đốt ở trường thành đực.
Xén tóc xanh thường đẻ trứng vào tháng 5-6 trên các nách lá ngọn, cành tăm. Sau 10-12 ngày sâu nở, bắt đầu gặm vỏ cành để sống, đục phá từ cành nhỏ đến cành lớn và cả thân cây. Khoảng 8 - 9 tháng sau, sâu non đục đến cành cấp 1,2, thậm chí có thể tới thân. Thông thường sâu tập trung ở cành cấp 1, làm buồng hoá nhộng bằng cách dùng mùn cưa và chất bài tiết vít đường đục lại rồi đục một lỗ ra ngoài, chừa lại vỏ cành để làm cửa vũ hoá sau này. Khoảng tháng 2-3, sâu non hoá nhộng, tới tháng 4-5 thì vũ hoá thành con xén tóc xanh bay ra. Vòng đời của sâu là 1 năm. Trên thân cây có thể bị hàng chục con sâu đục cành, nếu 2-3 năm liền bị hại, cây sẽ chết.
c - Biện pháp phòng, trừ
Dùng vợt hoặc bắt bằng tay đối với xén tóc trong thời gian con trưởng thành vũ hoá và đẻ trứng từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm.
Về mùa mưa thường xuyên đi thăm vườn cây có múi 2 – 3 ngày 1 lần đi kiểm tra quanh tán cây nếu cành héo bẻ bỏ đi và diệt sâu non để tránh sâu ăn xuống.
Nếu sâu đã ăn xuống khoảng 8 – 10 cm, đùn phân ra.
Thì dùng gai mây hoặc dây thép để lấy xác sâu ra hoặc xịt thuốc nồng độ cao vào lỗ có sâu rồi dùng đất sét bịt lại.
17. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella) a - Đặc điểm nhận dạng
Trưởng thành: Có kích thước nhỏ bé, thân mảnh khảnh dài 2mm. Chân màu vàng nhạt pha màu trắng bạc. Cánh trước hình lá liễu, phần gốc cánh trước tối màu hơn phần ngọn cánh, ngọn cánh có điểm màu đen lớn. Lông viền mép cánh dài, màu tro. Cánh sau hẹp hình kim, màu xám đen, lông mép cánh rất dài.
Trứng: Có hình gần tròn, dẹt, phẳng, giống giọt nước nhỏ. Mới đẻ màu trong suốt, sắp nở màu trắng đục.
Sâu non: Cạng dòi, không có chân, màu xanh vàng hoặc xanh nhạt, mới nở có màu xanh nhạt trong suốt, sâu non đẫy sức có màu vàng dài khoảng 4mm.
Nhộng: Hình thoi, màu vàng nhạt hoặc nâu đậm, dài khoảng 2,5mm
b - Tập tính sinh sống và gây hại
Trưởng thành hoạt động ban đêm, ban ngày đậu trong tán lá, giao phối lúc chập tối. Trưởng thành cái đẻ trứng rải rác ở mặt dưới lá non, sát gân lá chính chứng nở ra sâu non, sâu non đục vào biểu bì mặt dưới lá tạo thành đường hầm ngoằn ngoèo. Sâu non chủ yếu gây hại ở lá non.
Sâu phá hoại ở tất cả các tháng trong năm, mạnh nhất từ tháng 2 - 10.
Nếu bị sâu vẽ bùa cây quang hợp kém gây ảnh hưởng đến sức sinh trưởng đồng thời tạo ra những vết thương cơ giới, là cơ hội để bệnh loét xâm nhập.
c - Biện pháp phòng, trừ
Biện pháp canh tác: Bón phân cân đối, tưới nước, chăm sóc hợp lý để cho cây ra lộc tập trung.
Tỉa cành, tạo tán cho thông thoáng để tránh ẩm độ cao.
Biện pháp sinh học: Bảo vệ thiên địch tự nhiên, nuôi kiến vàng, bọ rùa, bọ cánh cứng...
Biện pháp hóa học: Phun thuốc 1 - 2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non, hiệu quả nhất lúc lộc non dài từ <1cm.
Khi chồi non dài <1cm phun lần 1, sau phun lần một 6, 7 ngày thì phun lần 2.
Phun dầu khoáng SK hoặc dùng nhóm thuốc có hoạt chất Abamectin (như Ababetter 1.8EC, Abagro 4.0EC, Abakill 3.6EC, 10WP, Abamine 1.8EC, Abasuper 1.8EC, 3.6EC, 5.55EC, Abatox 1.8EC, 3.6EC...) liều lượng, nồng độ pha theo khuyến cáo của nhà sản xuất để phòng trừ. Phun ướt hết mặt lá.